Rối loạn cương dương: Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị và phòng ngừa

Rối loạn cương dương là nỗi ám ảnh thầm kín của nhiều nam giới. Bệnh tuy không nguy hại đến sức khỏe nhưng có thể lấy đi sự tự tin và dũng khí của nam giới trước bạn đời. Điều trị tích cực sớm khi phát hiện các dấu hiệu của bệnh sẽ giúp nam giới nhanh chóng phục hồi chức năng sinh lý này.

rối loạn cương dương

Bạn đang xem: Bệnh rối loạn cuong duong là gì

Theo một thống kê ở Hoa Kỳ, có tới 20 triệu nam giới bị rối loạn cương dương. Tỷ lệ rối loạn cương dương hoàn toàn hoặc một phần vượt quá 50% ở nam giới trong độ tuổi 40-70. Khoảng 100 triệu đàn ông châu Á mắc chứng rối loạn cương dương ở các mức độ khác nhau, đây là chứng rối loạn nam khoa phổ biến nhất ở nam giới.

Rối loạn cương dương là gì?

Rối loạn cương dương là tình trạng dương vật không đủ cương cứng hoặc duy trì cho hoạt động tình dục thỏa mãn. Tình trạng này là một trong những biểu hiện của tình trạng yếu sinh lý nam.

Hiện tượng cương cứng là một quá trình sinh lý vô cùng phức tạp, liên quan đến thần kinh, tinh thần, nội tiết, mạch máu, cấu tạo dương vật… Nhằm đưa nhiều máu đến thể hang và giữ cho dương vật cương cứng. Do đó, bất kỳ sự xáo trộn nào trong quá trình này, dù ở cấp độ phân tử nhỏ nhất, đều có thể dẫn đến rối loạn cương dương. Do đó, rối loạn cương dương có thể do một hoặc kết hợp nhiều nguyên nhân khác nhau. 5 nguyên nhân chính dẫn đến rối loạn cương dương là: nội tiết tố, thần kinh, tâm thần, nguyên nhân do hệ thống mạch máu ở dương vật và những bất thường về cấu trúc của dương vật. Ngoài ra, chấn thương vùng chậu, bộ phận sinh dục và sử dụng ma túy cũng là những nguyên nhân phổ biến.

Có hai loại rối loạn cương dương :

  • Rối loạn cương dương nguyên phát: là bệnh nhân không bao giờ đạt được hoặc duy trì được sự cương cứng.
  • Rối loạn cương dương. Thứ phát: là tình trạng dương vật của người bệnh cương cứng bình thường nhưng đến một lúc nào đó nó không đạt được độ cứng như mong muốn.

Rối loạn cương dương biểu hiện như thế nào?

Những người bị rối loạn cương dương gặp phải các triệu chứng sau:

  • Mất ham muốn tình dục. Dương vật bị mềm, không đáp ứng được nhu cầu sinh lý bình thường của bạn tình.
  • Nam giới vẫn có ham muốn quan hệ tình dục. Tuy nhiên, khi quan hệ với nữ giới thì dương vật không thể cương cứng được dù đã sử dụng nhiều phương pháp kích thích khác nhau. nhu cầu nam giới.
  • ● Dương vật cương cứng nhưng không đủ lâu để giao hợp. Một số trường hợp khi đặt dương vật vào bên trong người phụ nữ sẽ tự mềm ra khiến hưng phấn nhanh chóng phai nhạt.

duong vat khong cuong cung

Nguyên nhân của rối loạn cương dương

Hầu hết các rối loạn chức năng cương dương đều liên quan đến rối loạn mạch máu, thần kinh, tâm lý và nội tiết tố. Sử dụng ma túy cũng là một lý do. Tỷ lệ rối loạn cương dương nguyên phát thấp, do bất thường cơ thể hoặc bẩm sinh.

Yếu tố tâm lý đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra rối loạn cương dương và do đó thường được xem xét trong tất cả các trường hợp rối loạn cương dương. Bệnh nhân có thể bị trầm cảm hoặc lo lắng, căng thẳng trong cuộc sống cá nhân, cảm giác tội lỗi hoặc sợ hãi không muốn quan hệ tình dục… Những yếu tố tâm lý này hoàn toàn có thể được giải quyết bởi bác sĩ hoặc bác sĩ tâm thần để giải quyết đầu óc của bệnh nhân.

thuoc la gay roi loan cuong duong

70% các trường hợp rối loạn cương dương là do các nguyên nhân thực thể sau:

  • Các bệnh ảnh hưởng đến mạch máu và hạn chế lưu lượng máu đến dương vật, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, bệnh tim, huyết áp cao hoặc cholesterol trong máu cao … thường gặp nhất là xơ vữa động mạch hang do hút thuốc lá và bệnh tiểu đường. . Xơ vữa động mạch, đi kèm với sự thoái hóa tự nhiên, làm giảm khả năng giãn nở của động mạch và cơ trơn trong thành mạch máu, do đó làm giảm lượng máu đi vào dương vật. Việc sử dụng trazodone, ma tuý, rượu và bệnh hồng cầu hình liềm có thể gây xơ hoá dương vật, làm giảm lưu lượng máu cần thiết cho sự cương cứng.
  • Nguyên nhân do giảm dẫn truyền thần kinh từ hệ thần kinh trung ương đến dương vật như bệnh đa xơ cứng, bệnh Parkinson, bệnh tủy sống, bệnh thần kinh ngoại biên, thần kinh tự chủ.
  • Rối loạn nội tiết: testosterone trong máu thấp (và tạm dừng), tăng tiết prolactin từ tuyến yên, suy giáp …
  • Các biến chứng của phẫu thuật vùng chậu như điều trị ung thư, cắt bỏ tuyến tiền liệt, cắt nang tận gốc; cắt tuyến tiền liệt qua niệu đạo; phẫu thuật ung thư trực tràng …
  • Chấn thương: sọ, tủy sống, xương chậu …
  • Một số thuốc điều trị huyết áp cao, thuốc lợi tiểu, thuốc chống loạn nhịp tim, thuốc chống trầm cảm , thuốc an thần …
  • Trầm cảm.
  • Căng thẳng vùng chậu dai dẳng (ví dụ: đạp xe quá nhiều)

Phương pháp chẩn đoán rối loạn cương dương

1. Khám bệnh sử

Xem thêm: So sánh hạt thuốc lá bấm Klik với thuốc lá thơm mond 2 bấm – klikvn

Tiền sử bệnh có thể giúp bác sĩ của bạn hiểu bản chất, thời gian và mức độ nghiêm trọng của rối loạn cương dương. Bằng cách này, thầy thuốc có thể xác định các yếu tố tâm lý, nguyên nhân thực thể và giúp xác định kỳ vọng của bệnh nhân.

2. Kiểm tra chức năng cương dương

Bác sĩ kiểm tra xem liệu bệnh nhân có thể cương cứng vào ban đêm hoặc buổi sáng hay không. Điều này rất quan trọng vì nó được coi là khả năng đạt được sự cương cứng trong các tình huống khác nhau.

3. Bảng câu hỏi đánh giá

Bệnh nhân sẽ trả lời 15 câu hỏi trong bảng câu hỏi Chỉ số Quốc tế về Chức năng Cương dương (iief), bao gồm:

  • 6 câu nói về chức năng cương dương.
  • 2 câu nói về niềm vui.
  • 2 câu nói về ham muốn tình dục.
  • 3 câu nói về sự thỏa mãn tình dục.
  • 2 câu về sự hài lòng hoàn toàn.

4. Đánh giá mức độ rối loạn cương dương

  • Nặng: 6-20 điểm
  • Trung bình: 21-30 điểm
  • Nhẹ: 31-50 điểm
  • Không có bất thường: 51- 60 điểm

5. Khám sức khỏe

5.1. Khám lâm sàng

Bộ phận sinh dục:

  • Khám dương vật: kích thước và hình dạng.
  • Quy đầu và bao quy đầu bất thường.
  • Dấu hiệu của bệnh Peyronie.
  • Khám tinh hoàn: số lượng, kích thước, vị trí, tính chất.

Đặc điểm giới tính cụ thể:

  • Tình trạng bệnh nhân.
  • Ung thư tuyến vú.
  • Tình trạng tóc.
  • Việc phân phối chất béo trong cơ thể diễn ra tốt.

Kiểm tra hệ thống mạch máu: Kiểm tra và đánh giá huyết áp.

5.2. Cận lâm sàng

  • Xét nghiệm bệnh nhân để chẩn đoán bệnh tiểu đường, tăng lipid máu và rối loạn nội tiết.
  • Thực hiện siêu âm Doppler màu mạch máu dương vật.
  • Chụp động mạch hang kết hợp với đo áp lực hang.
  • Thực hiện siêu âm Doppler màu mạch máu dương vật.
  • li>

  • Thực hiện chụp mạch dương vật.

Yếu tố nguy cơ gây rối loạn cương dương

Sự cương cứng của dương vật trở nên tồi tệ hơn theo tuổi tác.

Một số yếu tố nguy cơ có thể góp phần gây rối loạn cương dương bao gồm:

  • Những người mắc một số tình trạng y tế, chẳng hạn như bệnh tiểu đường hoặc bệnh tim.
  • Tôi hút thuốc rất nhiều. Thói quen này làm hạn chế lưu lượng máu đến tĩnh mạch và động mạch, lâu dần có thể mắc bệnh mãn tính dẫn đến rối loạn cương dương.
  • Một người thừa cân hoặc béo phì.
  • Những người đã từng dùng một số loại thuốc như phẫu thuật tuyến tiền liệt, xạ trị ung thư …
  • Những người đã từng bị chấn thương ở dương vật, đặc biệt nếu chấn thương ảnh hưởng đến dây thần kinh hoặc động mạch kiểm soát thời gian cương cứng.
  • Những người đang dùng thuốc bao gồm thuốc chống trầm cảm, thuốc kháng histamine, thuốc điều trị huyết áp cao và thuốc điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.
  • Một người thường xuyên sử dụng ma túy và rượu. Rối loạn cương dương đặc biệt nghiêm trọng ở những người nghiện ma túy hoặc rượu mãn tính.
  • Một người có vấn đề về tâm lý như thường xuyên căng thẳng, lo lắng hoặc trầm cảm.

Rối loạn cương dương và bệnh tiểu đường

Ở những người mắc bệnh tiểu đường, rối loạn cương dương xảy ra sớm hơn vì một số lý do. Bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường càng lâu thì tỷ lệ rối loạn cương dương càng cao. Các yếu tố khác như tuổi tác, uống rượu, kiểm soát đường huyết kém, biến chứng mạch máu… có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Tỷ lệ rối loạn cương dương ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn từ 15 đến 18 lần so với nhóm không đái tháo đường ở cùng độ tuổi. Trích dẫn bất kỳ nguồn nào

Việc phát hiện sớm bệnh rối loạn cương dương sẽ giúp người bệnh tiểu đường giảm thời gian phục hồi chức năng sinh lý này. Rối loạn cương dương ở hầu hết bệnh nhân đái tháo đường là kết quả của sự kết hợp của các yếu tố nội tiết, thần kinh, mạch máu và tâm thần. Do đó, việc điều trị rối loạn cương dương ở bệnh nhân đái tháo đường cần có nhiều yếu tố nguy cơ, kiểm soát toàn diện các biến chứng và hợp tác đa ngành, bao gồm:

  • Thay đổi chế độ ăn uống và lối sống: Bỏ hút thuốc và uống rượu; tăng cường hoạt động thể chất và ăn uống lành mạnh
  • Điều chỉnh lượng đường trong máu : Bác sĩ bệnh nhân sẽ được dùng thuốc uống hoặc tiêm insulin.
  • Điều trị các biến chứng mạch máu: Bệnh nhân cần điều chỉnh cholesterol, thuốc giãn mạch, thuốc chống huyết khối và chống xơ vữa.
  • Điều trị các biến chứng thần kinh và tâm thần (nếu có)
  • Sử dụng các biện pháp điều trị như: Bệnh nhân có thể được thay thế testosterone liệu pháp, chất ức chế 5-phosphodiesterase …

Điều trị rối loạn cương dương

  • Xem thêm: Vận đơn đường biển – Bill of Lading

    Điều trị nguyên nhân cơ bản và tình trạng cơ bản, nếu có, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, u tuyến yên, thiểu năng sinh dục nam, xơ hang, v.v. Các đợt rối loạn cương dương nên ngừng hoặc thay thế.

    Các phương pháp không xâm lấn như vòng thắt (dành cho những người không thể duy trì sự cương cứng đủ lâu) hoặc thiết bị cương cứng chân không (thiết bị hút chân không sử dụng lực hút để hút máu vào dương vật, sau đó một vòng đàn hồi được đặt vào dương vật ) Phần gốc của dương vật duy trì sự cương cứng). Nhược điểm của phương pháp này là dương vật bị thâm tím, đầu dương vật lạnh, không tự nhiên. Các thiết bị này có thể được sử dụng kết hợp với thuốc nếu cần thiết.

    Liệu pháp y tế, thường là chất ức chế men phosphodiesterase uống. Những loại thuốc này kiểm soát sự giãn cơ trơn. Trong các thử nghiệm lâm sàng so sánh, các loại thuốc này đã được chứng minh là có hiệu quả từ 60-75%.

    Prostaglandin e1 trong lòng hang vị hoặc niệu đạo: Alprostadil (prostaglandin e1), tự sử dụng bằng cách tiêm trong lòng hang vị hoặc niệu đạo, tạo ra sự cương cứng với thời gian trung bình từ 30 phút đến 1 giờ.

    Nếu các phương pháp điều trị khác không thành công, phẫu thuật có thể được xem xét.

    dieu tri roi loan cuong

    1. Thuốc uống điều trị như thế nào?

    Gần đây, một số thuốc hỗ trợ điều trị rối loạn cương dương đã trở nên đơn giản, không xâm lấn, hiệu quả cao (75 – 80%) và ít tác dụng phụ, chẳng hạn như thuốc ức chế men phosphodiesterase 5 (pde-). 5). Có ba nhóm chất ức chế Pde-5 chính: sildenafil, vardenafil và tadalafil.

    1.1 Tác dụng, hiệu quả của thuốc

    Những loại thuốc này làm tăng lượng máu đi vào dương vật và giúp bệnh nhân cương cứng. Chỉ mất 10 – 30 phút để thuốc phát huy tác dụng và tạo ra sự cương cứng cần thiết

    1.2 Tác dụng phụ

    • Chóng mặt, nhức đầu, đỏ bừng, chảy nước mũi, huyết áp thấp, thị lực bất thường, giảm thính lực; trong một số trường hợp có thể bị khó tiêu, khó chịu ở dạ dày.
    • Không sử dụng chất ức chế pde-5 với thuốc nitrat (đối với bệnh tim mạch vành). Tất cả các chất ức chế pde5 đều gây giãn mạch vành, làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các nitrat khác, kể cả những thuốc dùng để điều trị bệnh tim mạch vành và amyl nitrat dạng hít (hiện nay rất phổ biến). Do đó, việc sử dụng đồng thời nitrat và chất ức chế ped5 có thể nguy hiểm và nên tránh.

    2. Phẫu thuật rối loạn cương dương?

    Nếu thuốc và thiết bị hút chân không bị lỗi, có thể cân nhắc phẫu thuật cấy ghép chân giả – thể hang nhân tạo

    Bộ phận giả bao gồm một thanh silicon bán cứng và một thiết bị đa thành phần có thể được bơm căng bằng nước muối. Cả hai mẫu đều có chung những nguy cơ gây mê, nhiễm trùng và thải ghép.

    Ngăn ngừa rối loạn cương dương

    Nam giới, đặc biệt là nam giới lớn tuổi, cần thiết lập lối sống lành mạnh để ngăn ngừa nguy cơ rối loạn cương dương , chẳng hạn như:

    Xem thêm: Kiểu tóc đạt villa là gì? Top 10 kiểu tóc Mohican bao ngầu

    • Ăn uống điều độ và sống lành mạnh.
    • Không hút thuốc và hạn chế uống rượu.
    • Giữ cho cơ thể khỏe mạnh bằng cách tích cực tham gia các hoạt động thể chất hoặc tập thể dục.
    • Luôn duy trì thái độ lạc quan để hạn chế tác dụng của các loại thuốc gây lo lắng.
    • Tìm kiếm sự đồng cảm của đối tác.
    • Nếu bạn nhận thấy các triệu chứng, hãy đi khám càng sớm càng tốt để được can thiệp kịp thời.

Viết một bình luận