Thể nhân là gì? Các quy định về năng lực pháp luật của thể nhân?

Trong một số văn bản pháp luật, thuật ngữ thể nhân thường được sử dụng. Tuy nhiên, có rất nhiều bạn chưa hiểu và nhầm lẫn với câu này. Vậy thể nhân là gì và những quy định mới nhất về năng lực pháp luật của thể nhân là gì?

Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua số điện thoại: 1900.6568

Bạn đang xem: Thể nhân và pháp nhân là gì

Cơ sở pháp lý

– Bộ luật dân sự năm 2015.

1. Thể nhân là gì?

Trong luật học, thể nhân là người có thể nhận thức thông qua các giác quan và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, đồng thời là cá nhân được pháp luật thừa nhận từ khi sinh ra cho đến khi chết đi. Là cá nhân được hưởng các quyền và nghĩa vụ trước pháp luật và xã hội, khác với pháp nhân, pháp nhân là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập, được tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ.

Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật hiện hành, chẳng hạn như Bộ luật Dân sự năm 2015, không sử dụng khái niệm thể nhân mà là cá nhân.

Nghĩa tiếng Anh của natural person là: người.

Theo luật học, con người là người được nhận thức thông qua các giác quan và tuân theo các quy luật của tự nhiên, được pháp luật thừa nhận từ khi sinh ra đến khi chết với tư cách là cá nhân trước pháp luật và xã hội, được hưởng các quyền, nghĩa vụ và sự bảo vệ. . Khác với pháp nhân, pháp nhân là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập, được tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội theo quy định của pháp luật.

2. Quy định mới nhất về năng lực pháp luật của thể nhân:

Điều 16 Bộ luật Dân sự 2015 quy định năng lực pháp luật của thể nhân (cá nhân) như sau:

+ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân được hưởng các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

Xem thêm: Chủ đề là gì? blds 2015 chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự?

+ Đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

+ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bắt đầu từ khi sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Tương ứng, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân được hưởng các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự, mọi người đều bình đẳng và không bị các hạn chế và phân biệt đối xử khác nhau như giới tính, dân tộc, tôn giáo, tuổi tác, trình độ, v.v. , Nghề nghiệp … Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân tồn tại từ khi sinh ra và không thay đổi vì bất kỳ lý do gì, nó gắn liền với sự tồn tại của cá nhân và không tự mất đi trừ trường hợp cá nhân đó chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết. Tuy nhiên, nếu tòa án tuyên bố là đã chết thì vẫn có thể phục hồi khi người đã tuyên bố trở về và yêu cầu tòa án thu hồi quyết định tuyên bố là đã chết.

* Nội dung của năng lực pháp luật dân sự

+ Quyền nhân thân không gắn liền với tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản.

+ Quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế và các quyền khác.

+ Quyền tham gia vào quan hệ dân sự và chịu các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

Vì vậy, quyền nhân thân không gắn với tài sản có thể hiểu là quyền có họ, tên, quyền được khai sinh, quyền được tuyên bố là đã chết, quyền được sống mà người khác không có. được phép. Được xâm phạm tính mạng của người khác, trừ trường hợp được pháp luật cho phép, quyền sống, quyền sức khoẻ, quyền danh dự, quyền nhân phẩm … Theo quy định của BLDS về quyền sở hữu thì có ba loại quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình. Quyền thừa kế có thể hiểu là quyền của người có di sản được tặng cho theo di chúc hoặc được chia theo pháp luật, có quyền quyết định để lại tài sản cho ai, được hưởng quyền thừa kế. . Ngoài quyền sở hữu, quyền thừa kế, pháp luật còn thừa nhận cá nhân có các quyền tài sản khác. Cá nhân được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh khi thực hiện và thiết lập quan hệ dân sự.

Xem thêm: So sánh năng lực pháp luật dân sự của cá nhân và pháp nhân

Ngoài ra, Điều 18 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định, năng lực hành vi dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Luật này hoặc luật khác có liên quan có quy định khác.

Năng lực pháp luật dân sự về nhân thân được quy định chung cho tất cả các chủ sở hữu thuộc về cá nhân, và cá nhân đảm nhận và chịu hoàn toàn trách nhiệm, không thể chuyển nhượng, không bị hạn chế và các nghĩa vụ pháp lý khác. quyền nhân thân của nhau. Đây là đặc điểm phân biệt quyền nhân thân với các quyền khác.

3. So sánh thể nhân và pháp nhân:

+ Mọi người đều là một thể nhân từ khi sinh ra cho đến khi chết đi.

+ Nếu muộn hơn, án tử hình được áp dụng (mất tích) và tòa án phải khôi phục tất cả các quyền cơ bản của người đó.

Xem thêm: Thép là gì? Phân loại và ứng dụng của thép trong cuộc sống

– Có 3 loại thể nhân:

+ Thể nhân có đầy đủ năng lực và hành vi: phải đủ 18 tuổi trở lên, phát triển bình thường, không bị cấm hưởng các quyền, có quyền tham gia vào mọi quan hệ pháp luật.

+ Thể nhân mất năng lực hoặc mất khả năng lao động: người bệnh tâm thần, người chưa thành niên, hành động thông qua người thân (người đại diện).

+ Thể nhân có năng lực hành vi không an toàn: người bình thường từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi.

– Thể nhân không chuyên: có sự thay đổi nghề nghiệp linh hoạt.

– Có tư cách pháp nhân bình đẳng trước pháp luật, được hưởng các quyền và nghĩa vụ như nhau.

– Quốc tịch: Một hoặc nhiều.

-Quan hệ pháp luật danh nghĩa: Các bên phải chịu trách nhiệm hình sự.

+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do pháp luật cấp.

+ Doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản, chấm dứt tư cách pháp nhân.

– Các điều kiện cơ bản để tổ chức có tư cách pháp nhân:

+ phải được thành lập hợp pháp.

+ Phải có cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, thống nhất, có bộ phận quản lý chịu trách nhiệm trước pháp luật.

+ phải có thuộc tính riêng: mục đích hoạt động theo mục đích đã định và là cơ sở để bù đắp cho các chủ thể khác.

+ Phải có tên riêng và nhân danh chính mình tham gia vào quan hệ pháp luật thể hiện qua tên, loại hình hoạt động, nghề nghiệp …

– Pháp nhân chuyên nghiệp: có ngành nghề cụ thể, đặc thù, phải đăng ký và kê khai rõ ràng.

– Địa vị pháp lý: không bình đẳng, có 2 loại:

+ Bài tập: Làm việc vì lợi ích chung.

+ Công lý: Hành động vì lợi ích của riêng bạn.

– Quốc tịch: Chỉ có 1 quốc tịch.

– Quan hệ hình sự: không phải chịu trách nhiệm hình sự (không có chế tài hình sự).

4. Năng lực dân sự của thể nhân:

Ngoài quy định về năng lực pháp luật của thể nhân, Điều 19 Bộ luật dân sự 2015 còn quy định về năng lực hành vi dân sự của thể nhân (cá nhân) như sau:

p>

Xem thêm: Lòng trắng mắt có nhiều tia máu đỏ là do bệnh gì? | Medlatec

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự thông qua hành vi của mình.

Khả năng là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có thể được sử dụng để thực hiện một số hoạt động và hành vi là hành vi bên ngoài của một người trong một tình huống cụ thể. Như vậy, xét về khía cạnh này, năng lực hành vi là khả năng của một cá nhân để thực hiện, điều khiển và làm chủ các hành vi này.

Theo quy định tại các Điều 20, 21, 22 và 23 Luật Tố tụng dân sự, chúng ta thấy pháp luật thừa nhận năng lực hành vi dân sự của cá nhân ở những mức độ khác nhau. Ở mỗi cấp độ, cá nhân có quyền tham gia giao dịch dân sự trong phạm vi tương ứng, cụ thể như sau:

* Năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Người lớn là người từ mười tám tuổi trở lên. Người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Luật này. Luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu chứ không quy định độ tuổi tối đa đối với người có đầy đủ năng lực pháp luật. Những cá nhân này hoàn toàn độc lập và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Người trên 18 tuổi được coi là có đủ năng lực hành vi dân sự. Tình trạng mất năng lực hoặc hạn chế năng lực chỉ xảy ra khi Tòa án ra quyết định hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự.

Xem thêm: Hạn chế Năng lực Dân sự là gì? Quy định về mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự?

* Không đủ năng lực hành vi dân sự

Trẻ vị thành niên là người dưới mười tám tuổi.

Người từ đủ sáu tuổi đến mười lăm tuổi phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt. Mặc dù pháp luật không quy định giao dịch nào là “giao dịch dân sự phục vụ sinh hoạt”, “giao dịch phù hợp với lứa tuổi” nhưng có thể hiểu đây là những giao dịch nhỏ, phục vụ nhu cầu học tập, vui chơi và đời sống khác của con người mà không được sự đồng ý trực tiếp của người đại diện. , bởi các đại diện của nó cho phép.

Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản và các giao dịch dân sự khác mà pháp luật phải đăng ký và phải được sự đồng ý của đại diện pháp lý.

* Không đủ năng lực

Giao dịch dân sự đối với người dưới sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. Họ không bao giờ có khả năng hành động bởi vì họ không có đủ ý chí và lý trí để hiểu được hành vi và hậu quả của nó.

* Không đủ năng lực hành vi dân sự

Khi một người không thể nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình do mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác thì theo yêu cầu của các bên liên quan hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan, Tòa án sẽ ra phán quyết, tuyên bố theo kết luận của giám định pháp y tâm thần thì người đó mất năng lực hành vi dân sự.

Xem thêm: Sự khác biệt giữa năng lực cá nhân và tổ chức

Khi không còn lý do để tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, tòa án sẽ ra phán quyết theo yêu cầu của người đó hoặc người có quyền liên quan hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan. Thu hồi quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi phải do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập, thực hiện.

* Năng lực hành vi dân sự bị hạn chế

Trường hợp tài sản của gia đình bị hư hỏng do sử dụng ma tuý, sử dụng chất kích thích khác thì Toà án có thể quyết định xác định người đó là người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của người có quyền hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan.

Tòa án quyết định hạn chế người đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện của người có năng lực hành vi dân sự.

Việc Tòa án xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan.

Khi không còn lý do tuyên bố hạn chế năng lực dân sự thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố hạn chế năng lực dân sự theo yêu cầu của đương sự, người có quyền, cơ quan có liên quan. tổ chức, hoặc tòa án.

Pháp luật có những quy định cụ thể đối với thể nhân, mọi người dân cần tìm hiểu kỹ các quy định của pháp luật để tránh nhầm lẫn. Trên đây là nội dung tư vấn của công ty luật tinh duong gia về thể nhân là gì và những quy định mới nhất về năng lực pháp luật của thể nhân. Mọi thắc mắc liên quan vui lòng liên hệ công ty luật tinh duong gia để được tư vấn và giải đáp.

Xem thêm: Các điều khoản dành cho những người bị suy giảm nhận thức và kiểm soát hành vi

Xem thêm: Số 5 có ý nghĩa gì? – Ý nghĩa của số 5 – HoaTieu.vn

Viết một bình luận