Kinh nghiệm giúp học sinh nhận biết Từ đơn, Từ ghép, Từ láy – Kinh nghiệm dạy học

Trải nghiệm giúp học sinh xác định từ, hợp chất và hợp chất.

Giới thiệu

Bạn đang xem: Từ đơn từ láy từ ghép là gì

1 lý do để chọn chủ đề

“Ngôn ngữ là lớp vỏ vật chất của trí óc. Bạn càng đọc nhiều, ngôn ngữ của bạn càng tiến bộ, trí tuệ của bạn càng phát triển. Giáo dục tiếng mẹ đẻ từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành quyết định mọi người. và phát triển văn hóa và văn minh quốc gia ”. (Ngữ pháp, Tiếng Việt – Tiến sĩ Ngôn ngữ học nguyễn huu quynh).

Tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp trong toàn xã hội Việt Nam. Để hoàn thành tất cả các khía cạnh của một vấn đề thông tin: hội thoại, thư từ,… khi nói, câu văn viết phải ngắn gọn và chính xác. Đây là tiêu chuẩn của nền văn minh. Nói hay, viết hay, nói hay, viết đẹp, Tiếng Việt là điều bắt buộc đối với học sinh. Vì vậy, Tiếng Việt là một trong những môn học chiếm vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục toàn diện học sinh tiểu học. Có kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt sẽ cung cấp cho các em kho tàng ngôn ngữ phong phú, nuôi dưỡng tâm hồn và hướng dẫn các em sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác. Môn học chính đảm nhiệm các chức năng trên là phần luyện từ và câu. Ở cấp tiểu học, học sinh được dạy những từ ngữ ít thông dụng nhất về thế giới xung quanh như công việc của học sinh ở trường, quê hương, tình cảm gia đình, cảnh đẹp thiên nhiên đất nước, con người … những từ này. Môn ngữ văn dạy ở tiểu học liên quan đến việc giáo dục học sinh tình yêu gia đình, trường lớp, đất nước, quê hương …

Nếu bạn muốn rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ, bạn phải hiểu rằng từ là đơn vị trung tâm và cơ bản của ngôn ngữ. Chữ viết là một chất liệu đặc biệt, không có thì ngôn ngữ không thể tồn tại. Trong số các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị thực hiện nhiều chức năng và là đơn vị sẵn có, có tính độc lập cao.

Vai trò của từ trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy từ ở trường tiểu học. Không có vốn từ vựng hoàn chỉnh thì không thể làm chủ ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp. Vì vậy, việc phát triển kiến ​​thức và kỹ năng từ vựng cho học sinh là vô cùng quan trọng.

Là một giáo viên, hãy dẫn dắt trẻ em tìm kiếm kiến ​​thức mới với tinh thần học tập tự giác và tích cực. Cá nhân tôi thấy việc học luyện từ và câu cảm thấy khô khan, khó, khó, do việc phân chia luyện từ và câu chứa rất nhiều kiến ​​thức khác nhau, không có sự phân biệt rõ ràng giữa các phần nên có sự nhầm lẫn. : Từ láy, từ ghép đẳng lập, từ ghép thanh, từ tượng thanh, từ tượng hình… Khi nói, viết câu phải nắm chắc bản chất, cấu tạo của từ, biết đặt đúng vị trí của từ. Tuy nhiên, thực tế môn văn đòi hỏi học sinh không chỉ viết được những câu có nghĩa mà còn phải biết vận dụng linh hoạt vốn từ vựng để tạo nên những câu văn giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm … nên việc tiếp thu vốn từ đã khó, làm sao phân biệt được. và sử dụng chúng là một vấn đề.

Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy học sinh khó nắm được khái niệm từ, phân biệt tổ hợp từ, từ ghép đẳng lập và từ ghép đẳng lập. Trẻ em thường nhầm lẫn giữa các kết hợp của hai từ: từ và ghép, từ ghép và từ ghép, hoặc từ ghép Hán Việt ở dạng ngữ âm ngẫu nhiên tương tự như từ ghép.

Ví dụ: Con chuồn chuồn nước (từ ghép), mà bạn thường nghĩ là một tổ hợp từ duy nhất.

– sải cánh (tổ hợp từ đơn) – bạn nghĩ đây là từ ghép.

<3

Đôi khi, có những bài tập khác yêu cầu bạn tìm dạng từ và trong khi không có phân từ nào được đề cập, bạn sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ nếu bạn không vẽ ranh giới từ chính xác.

Ví dụ: tìm các tính từ trong các phần phụ sau:

“Việt Nam đẹp trăm miền

Bốn mùa cùng một màu, trời và đất cũng một màu.

Làng, cánh đồng, rừng

Núi cao, gió lớn, sông chan chứa nắng.

Xoài màu vàng cam sang trọng

Những hàng dừa nghiêng mình, những hàng cọ thẳng tắp, những hàng cây đón nắng. “

Nếu học sinh không biết cách phân từ sẽ cho: trời riêng, non cao, xoài xanh, cam vàng, dừa nghiêng, cau thẳng là từ ghép nên sẽ thấy thiếu các tính từ: tư, cao, xanh, vàng, nghiêng, thẳng. Đôi khi gây ra sự hiểu lầm và cách dùng từ do định nghĩa từ không chính xác.

Ví dụ: Câu học sinh: bé Linh để nhà cửa bừa bộn.

Họ không biết rằng ngôi nhà là một từ ghép và sử dụng chúng như một sự kết hợp của 2 từ. .Các khái niệm về từ đơn, từ ghép, từ ghép được dạy trong bộ môn Luyện từ và câu lớp 4.

Thực tế giảng dạy, trao đổi với giáo viên, học sinh tham gia khảo sát chất lượng tôi nhận thấy: việc phân biệt ranh giới từ khó không chỉ đối với học sinh bình thường mà đối với tất cả học sinh, sinh viên cũng được, thậm chí có khi đối với giáo viên là một câu hỏi gây tranh cãi. Học sinh có thể ghi nhớ và xác định các định nghĩa, nhưng họ không hiểu đầy đủ và không đủ vững chắc để phân biệt chúng. Nếu tổ hợp hai từ láy và từ ghép đẳng lập, từ ghép đẳng lập và từ ghép đẳng lập có lặp lại từng phần thì rất khó phân biệt. Họ không biết rằng âm tiết đầu tiên bị thiếu và âm được viết bằng một bảng chữ cái khác. Lý do cho điều này là gì: tài liệu giảng dạy không nhất quán? , trình độ của giáo viên không đảm bảo? , bởi vì họ chưa sẵn sàng cho lớp học? Vẫn chưa nhận ra tầm quan trọng của lời nói? Để tìm hiểu, tôi nghiên cứu câu hỏi này: “ Giúp học sinh phân biệt từ ghép-từ ghép lớp 4 ”.

i.2 Các Mục tiêu và Nhiệm vụ Chủ đề

-Giúp học sinh khắc phục một số khó khăn khi phân biệt từ đơn, từ ghép, từ ghép đẳng lập.

– Các em hiểu đúng từ vựng và tích cực phát triển vốn từ, tạo nền tảng cho các em sử dụng đúng từ vựng trong giao tiếp, viết và học tiếng Việt.

– Dạy trẻ biết yêu nước Việt Nam và giữ cho nước Việt Nam trong sáng.

– Giúp giáo viên hiểu vai trò của từ và khả năng phân biệt các từ.

i.3 Chủ đề

– Gõ kiến ​​thức từ (từ láy, từ ghép, từ ghép) môn ltvc lớp 4

– Học sinh lớp 4 và giáo viên tiểu học

i.4 giới hạn phạm vi nghiên cứu

– Chuyên đề này kiểm tra thực trạng lĩnh hội kiến ​​thức và vận dụng kiến ​​thức trong môn luyện từ: (từ đơn, từ ghép, từ ghép) Luyện từ và câu lớp 4 trong chương trình luyện tập chương trình tiểu học hiện hành. Nhằm đưa ra hệ thống giải pháp tối ưu giúp học sinh phân biệt (từ láy, từ ghép, từ ghép) nhằm thúc đẩy học sinh hăng say học tập

i.5 Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp toàn diện.
  • Phương pháp điều tra.
  • Phỏng vấn trò chuyện.
  • Phân tích so sánh.
  • Phương pháp thử nghiệm.

Nội dung

ii.1 Lý do:

Phần luyện từ và câu lớp 4 rất quan trọng. Giúp cung cấp cho học sinh những kiến ​​thức đơn giản về cấu trúc ngôn ngữ, cấu tạo từ. Cung cấp một số kiến ​​thức cơ bản về từ loại cơ bản trong tiếng Việt. Nhận biết và phân tích cấu tạo của âm, cấu tạo của từ. Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ vựng với các dạng bài tập sau:

– Sắp xếp các từ theo cấu trúc. Thực hành sử dụng từ vựng

– Xác định các từ theo thể loại từ. Tìm các từ và sắp xếp chúng theo loại từ

– Tìm từ theo chủ đề. hiểu nghĩa của từ. Phân loại từ

-Tìm hiểu ý nghĩa của các thành ngữ và tục ngữ

– Cung cấp kiến ​​thức đơn giản về cấu trúc, cách sử dụng và cách sử dụng các loại câu

– Xác định các kiểu câu. Phân tích cấu trúc câu

– Đặt câu dựa trên các mẫu. Chọn các mẫu câu để đảm bảo giao tiếp lịch sự

– Thực hành sử dụng câu trong các tình huống khác nhau. Thực hành mở rộng câu …

Ai cũng biết rằng để học sinh viết được những câu đúng ngữ pháp và có ý nghĩa thì trước hết cần phải có kiến ​​thức về từ vựng. Phải hiểu nghĩa của từ và phân loại từ chính xác. Vì vậy, tôi đặc biệt chú trọng đến việc tìm ra những giải pháp tốt nhất để học sinh hiểu nghĩa từ, phân loại từ và nâng cao kỹ năng từ vựng trong giao tiếp và viết.

ii.2 Thực tế

  1. Ưu-Nhược điểm

* Thuận tiện

Đề tài được tôi nghiên cứu khi trực tiếp giảng dạy tại lớp tôi phụ trách, rất thuận lợi. Đa số các em học sinh có học lực khá, siêng năng, ham học hỏi, tự tay làm ra khóa học, sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ, được phụ huynh chăm lo chu đáo. Lãnh đạo nhà trường và các đồng nghiệp thường xuyên dự giờ thăm lớp, góp ý xây dựng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu thành công đề tài và vận dụng vào giảng dạy có hiệu quả.

* khó

Tuy có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, trong lớp có 12 học sinh dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc theo cha mẹ đi xây dựng kinh tế, nói tiếng Việt và đọc viết chưa tốt, điều này ảnh hưởng đến sự trôi chảy của quá trình nghiên cứu chủ đề.

Tôi. Phân tích và đánh giá các vấn đề hiện trạng mà chủ đề đặt ra

1 Chương trình Sách giáo khoa Học tập

Bài 4 Luyện từ vựng dạy cách tạo từ hoặc phân biệt các bộ phận của từ dựa trên cấu trúc:

– Tuần 1: Cấu trúc của âm thanh.

– Tuần 3: Từ đơn, từ phức.

– Tuần 4: Từ ghép, Từ ghép.

Chúng tôi thấy rằng sách giáo khoa Việt Nam và sách giáo khoa tiểu học không thống nhất về cách phân loại của một số từ.

Ví dụ, chuồn chuồn, rắn chuông, thằn lằn … Những từ này được xếp vào nhóm từ đơn âm trong sách giáo khoa dạy học và từ ghép trong sách giáo khoa tiểu học.

Hoặc các từ: tắc kè, bồ hóng, apatit, v.v. Sách giáo khoa dạy học gọi là từ đơn tiết, nhiều tài liệu khác gọi là từ ghép. Sách giáo khoa cấp tiểu học xếp chúng trong từ ghép. Chính vì sự không thống nhất này mà ngay cả chính giáo viên cũng lúng túng không biết dạy học sinh như thế nào. Chưa phân biệt rõ định nghĩa từ ghép đẳng lập và từ ghép đẳng lập, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa thì không rõ từ ghép là gì?

2 Phương pháp Giảng dạy

* Hoạt động Giảng dạy:

Qua các buổi học, thăm và trò chuyện với các giáo viên trường tiểu học của tôi, tôi nhận thấy các giáo viên lên lớp đều thực hiện đúng các bước, nhiệt tình giảng dạy, xử lý đúng và đủ kiến ​​thức. sách giáo khoa. Nhưng đa số giáo viên thường ngại dạy luyện từ và câu, không phải giáo viên nào cũng phân biệt được chính xác đoạn văn hay, từ láy trong khổ thơ, phân biệt từ láy hay từ ghép đẳng lập….

* Hoạt động Học tập:

Dạy lớp 4 trong những năm qua, tôi nhận thấy rằng các em không thích học từ và câu, đặc biệt là lớp “lý thuyết từ”. Dựa trên ngôn ngữ hàng ngày, họ có thể phân tích và xác định cấu trúc và ý nghĩa của từ. Tuy nhiên, họ cảm thấy khó khăn trong việc tách các từ trong câu, và họ cảm thấy khó hiểu khi bản thân nhiều từ có thể tách thành hai từ.

Ví dụ: Đó là một cuốn sách, một từ ghép hay một từ …

Hoặc một số từ có phần phát âm là những âm lặp lại thì tại sao chúng không được xếp vào từ ghép (mà là từ ghép, ví dụ: cười, bập bẹ …)

Mặt khác, học sinh không biết các từ thiếu âm đầu, ví dụ: kẽo kẹt, ồn ào … là từ láy hoặc những từ có âm đầu là âm nhưng được ghi bằng chữ cái khác, là từ ghép. chẳng hạn như: Cong, kỳ cục, …

* Tổng kết: Qua thực tế giảng dạy của tôi, tôi thấy việc phân biệt từ, đơn chất, hợp chất là đúng đối với học sinh lớp 4, đặc biệt là đối với những học sinh xuất sắc, là một nhu cầu bức thiết. Để giúp học sinh đạt được những yêu cầu này, mỗi giáo viên phải làm gì và làm như thế nào? Để tìm ra câu trả lời đó, bản thân tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và rút ra được một số kinh nghiệm trong việc phân biệt từ, đơn chất, hợp chất và vận dụng vào giảng dạy và học tập. Học sinh lớp 4, học sinh giỏi, và đã đạt được những kết quả đáng kể. Chính vì vậy năm học 2011-2012 tôi đã đúc kết kinh nghiệm của mình thành một phương pháp cụ thể mà tôi áp dụng vào dạy học lớp 4. Tôi có thể làm thí nghiệm trên giáo viên lớp 4a2 của tôi.

– Qua khảo sát chất lượng đầu năm của lớp 4a2, lớp tôi được nhà trường phân công làm chủ nhiệm có 33 học sinh, gồm:

Từ những kết quả trên tôi thấy số học sinh đạt loại giỏi còn chưa nhiều, còn một số học sinh bị điểm kém nên tôi đã đi sâu nghiên cứu và đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng. Nâng cao chất lượng dạy học sinh phân biệt từ láy, từ ghép đẳng lập, đặc biệt là từ ghép đẳng lập.

Giải pháp

  1. Mục tiêu Giải pháp, Được đo lường

-Giúp học sinh biết nghĩa của từ, biết cách phân loại từ và cấu trúc

– Xác định đúng loại từ (từ đơn, từ ghép, từ ghép) trong ngữ cảnh cụ thể

– Biết dùng từ ngữ thích hợp để viết thành câu, đoạn văn, văn xuôi hay

  1. Gì và cách thực hiện các giải pháp và cách giải quyết
  2. Tìm hiểu ý nghĩa của việc phân loại cấu trúc trong các bài tập luyện từ và câu.

– Với nhiệm vụ dạy học “từ láy, từ ghép đẳng lập, từ ghép đẳng lập”, giáo viên cần tập trung phân tích hình thức cấu tạo của từ, cấu tạo của từ: từ đơn được cấu tạo bởi từ có nghĩa. Từ ghép gồm 2, 3 … âm; từ ghép gồm 2, 3 ….

– Trong từ ghép ta thấy quan hệ của chúng: tiếng có quan hệ bình đẳng hoặc quan hệ phụ. Trong từ điển, chúng ta cần chú ý đến hình thức của nét nối, kiểu uốn lượn, làm rõ phụ âm đầu, vần, sự lặp lại các âm, thanh điệu.

– Dạy “Từ, đơn chất, hợp chất” với mục tiêu mở rộng vốn từ của học sinh dựa trên các mối quan hệ cấu tạo từ bằng cách tạo ra từ và hợp chất. Trong môn học này, học sinh phải hiểu rõ nghĩa của từ và sắp xếp từ theo chủ đề theo yêu cầu.

– Từ ghép, gồm những từ ghép lại thành một từ có nghĩa chung. Từ ghép mang nghĩa tổng hợp hoặc phân loại.

– Những từ ngữ nhấn mạnh giá trị biểu tượng là gợi, gợi, thêm nghĩa, bớt nghĩa, hoặc cả một giá trị biểu tượng vần điệu tiêu biểu nào đó.

<3

Quy luật của nhận thức là từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi trở lại thực tế, việc hình thành khái niệm “từ” cho học sinh tiểu học cũng không nằm ngoài quy luật này. Mặt khác, phương pháp đổi mới của chúng tôi cho phép chúng tôi lựa chọn nội dung giảng dạy không theo quy tắc trong sách giáo khoa, giúp học sinh tư duy độc lập và hiểu sâu hơn chương trình học.

* Dạy từ đơn, từ ghép, từ ghép đẳng lập, ở lớp 4, tôi đã phát triển các khái niệm sau:

a. Trước tiên, hãy để học sinh phân biệt giữa “từ đơn giản và từ phức tạp”:

Bước 1 : Giáo viên phát tài liệu sách giáo khoa cho học sinh để học sinh phân tích:

Vì câu sau có 14 từ, mỗi từ được phân cách bằng dấu gạch chéo.

“Cảm ơn bạn / bạn / giúp đỡ / lại / có / sẽ / học tập / nhiều / năm / liên tục / hanh / là / sinh viên / nâng cao.”

Mời học sinh chia các từ trên thành hai loại:

– những từ chỉ gồm 1 âm tiết (từ đơn)

– Các từ có 2 âm tiết (hợp chất)

Xem thêm: Sinh năm 1976 Mệnh gì? Tuổi Bính Thìn hợp Tuổi nào & Màu gì?

Vậy câu 1 từ (từ đơn) là: ơn, bạn, lại, vâng, chi, nhiều, năm, tức, khanh, là.

Các từ đa ngữ (từ phức) bao gồm: help, study, student, advanced.

Bước 2: Hình thành khái niệm từ đơn giản và phức tạp.

– Yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi:

1. Âm thanh được sử dụng để làm gì ?

Các từ được sử dụng để tạo thành từ:

+ Bạn có thể tạo một từ trong 1 giờ. Chỉ một từ.

+ cũng có thể mất 2 giờ hoặc hơn để tạo một từ. Đó là một từ phức tạp.

2. Từ này được sử dụng để làm gì?

Được sử dụng cho:

+ có nghĩa là sự vật, hoạt động, đặc điểm … (tức là ý nghĩa)

+ Cấu trúc câu.

b, sau khi học sinh phân biệt được từ đơn và từ phức, tôi giúp các em phân biệt từ ghép đẳng lập và từ ghép đẳng lập. Vượt qua bài “Từ ghép và từ ghép” ở lớp 4.

* Tôi giúp học sinh hình thành từ ghép và khái niệm về từ ghép như sau:

Bước 1: Yêu cầu học sinh phân tích ngữ liệu để phân biệt các từ phức:

câu chuyện, tiếng huýt sáo, cái tổ tiên, chậm rãi, con lạch, im lặng, se se, những từ này: câu chuyện cổ tích, những người nuôi dưỡng, sự im lặng bao gồm những từ có nghĩa được gọi là từ ghép, trong khi các từ: thì thầm, chậm rãi, cọt kẹt, se se, bởi vì ban đầu âm (thì thầm), vần (hoan hô), âm và vần (se se, chậm rãi) được lặp đi lặp lại được gọi là từ lá.

Bước 2 : Hình thành khái niệm từ ghép, từ ghép

Tổ hợp từ

+ là một từ ghép.

+ Ghép từ có âm đầu hoặc vần hoặc tiếng và cả âm của vần hoặc tiếng.

c Sau khi học hai phần “Từ và ghép”, Từ ghép, Từ ghép, tôi đã khái quát và giúp học sinh hình thành các khái niệm về từ đơn, từ ghép và từ ghép như sau:

+ Từ đơn là từ gồm 1 nghĩa.

+ Từ ghép là những từ ghép lại để tạo thành một nghĩa chung.

+ Tiếng lóng bao gồm các staccatos.

d, So sánh khái niệm từ ghép đẳng lập và từ ghép đẳng lập.

– Các âm trong từ ghép có quan hệ với nhau về nghĩa:

Ví dụ – học tập, gia đình, xe đạp …

– Âm trong từ ghép có liên hệ với nhau trong tiếng:

Ví dụ – chăm chỉ, thông minh, xinh đẹp.

e. Luyện tập: Hệ thống luyện tập được nâng cao dần từ dễ đến khó. Đầu tiên, tôi phân loại các từ dễ nhận biết là từ đơn, từ ghép hay từ ghép.

Ví dụ:

– Một từ: đi, đứng, học, chơi, ăn, đọc, vui chơi, em bé, bố, mẹ …

– Từ ghép: lấp lánh, chói lọi, xinh xắn …

– Từ ghép: xanh, tròn, thẳng, nhà, lúa, sách, khôn …

Ngoài các bài tập ở trên giúp học sinh dễ dàng nhận biết “từ, đơn chất, hợp chất”, tôi đã từng bước luyện tập lên cấp độ cao hơn ở các dạng bài: tìm từ, từ, hợp chất trong các bài văn., Bài thơ Phán đoán Cho dù kết hợp là 2 từ láy hay 1 từ ghép.

Ví dụ 1: Xác định từ loại, từ láy, hợp chất trong bài thơ sau:

“con bê mũm mĩm

Xôn xao cái mũi với những cánh hoa đã mua

Cổng trang trại đang mở và đàn trâu đang chen chúc bên trong

Trong nhịp sống hối hả và nhộn nhịp “

Ví dụ 2: Trong các tổ hợp từ sau, tổ hợp nào là 2 từ và tổ hợp nào là 1 từ ghép: bánh rán, bánh rán, xe kéo, xe kéo, xe cộ, sách, …

Qua 2 ví dụ trên:

Ví dụ 1: Học sinh vẫn khó nhận biết “mua cánh hoa”; “cổng trại”, “chê” là từ ghép hay tổ hợp từ.

Ví dụ 2: Học sinh khó phân biệt “bánh rán” và “xe kéo” là từ ghép hay là sự kết hợp của hai từ.

Để khắc phục khó khăn trong việc xác định và phân biệt các từ, các hợp chất hoặc phân biệt các hợp chất với các hợp chất, tôi đã thực hiện các phân biệt sau đây.

4. Một số biện pháp phân biệt từ đơn và từ ghép.

3.1 Chèn

Chúng ta biết rằng các từ là hoàn chỉnh về cấu tạo và ý nghĩa, và mối quan hệ giữa các yếu tố của một từ ghép là một sự kết hợp chặt chẽ, không thể tách rời và cố định. ..

Trong cấu trúc của hai từ, các yếu tố trong tổ hợp có quan hệ chặt chẽ với nhau và dễ tách rời. Một yếu tố khác có thể được chèn từ bên ngoài, nhưng ý nghĩa của tổ hợp về cơ bản không thay đổi. Để kiểm tra tính toàn vẹn của kết cấu ta có thể sử dụng phương pháp “so le” để kiểm tra.

Đầu tiên, tôi giúp học sinh hiểu rằng “xen kẽ” là một thành phần khác được chèn vào một tổ hợp từ nếu:

* Nghĩa của tổ hợp từ không thay đổi thì tổ hợp từ là tổ hợp từ.

* Tổ hợp từ là từ ghép nếu nghĩa của nó thay đổi.

<3

“bánh rán” Chúng ta có thể chèn “cái đó” vào giữa hai từ cụ thể “bánh rán” mà không thay đổi nghĩa. Vì vậy “bánh rán” là sự kết hợp của hai từ.

Tương tự như vậy, học sinh sẽ xác định “kéo xe”, “bình tĩnh” và “cổng trại” là sự kết hợp của 2 từ.

Và “trailer” là một từ ghép.

Mặt khác, tiếng Việt là một ngôn ngữ không thay đổi hình thức của từ được sử dụng, do đó, trong nhiều trường hợp, rất khó để biết đâu là từ ghép và đâu là tổ hợp nếu chỉ dựa vào hình thức. Ghép một từ duy nhất. Vì vậy, chúng ta phải xem xét chúng trong một bối cảnh cụ thể và sau đó sử dụng phương pháp “xen kẽ”.

Ví dụ: Kết hợp từ “anh trai” trong một câu “

“Bạn đã biến mất” là sự kết hợp của hai từ đơn giản vì:

Có thể nói “anh trai tôi đã mất”

Các kết hợp của “anh em” trong câu:

“Anh em như tay chân” là một từ ghép do sự kết hợp các âm quá chặt chẽ nên không thể thêm vào giữa chúng.

Sau đó, tôi đưa ra một số bài tập điển hình để củng cố cách xen kẽ để xác định xem một tổ hợp từ là từ ghép hay hai từ, như sau:

* Xác định xem phần được gạch chân của câu sau là từ ghép hay từ láy:

  1. Một con én có đôi cánh dài hơn một con chim sẻ. (2 từ)
  • Mùa xuân chim én bay về. (1 từ ghép)
  1. Cô ấy thích cánh gà. (2 từ)
  • Cô ấy đang đứng sau cánh gà. (1 hợp chất)
  1. Bánh mềm quá, thưa bà. (2 từ)
  • Tôi chỉ thích ăn bánh gạo, không phải bánh gạo. (1 từ ghép)

3.2, xóa các phần tử

Do tính đầy đủ về nghĩa của từ và tính chặt chẽ của cấu trúc, nhiều khi chúng ta có thể sử dụng một thành phần để thay thế toàn bộ từ hoặc nếu nghĩa của từ bị bỏ qua, chúng ta có thể bỏ qua một thành phần trong sự kết hợp. Nếu nó không thay đổi, đó là một từ ghép.

Ví dụ, khi chúng ta nói về việc mua hoa, chúng ta nói: “Mua hoa cúc”, có nghĩa là mua hoa cúc. Vậy “cúc” ở đây có nghĩa là “hoa cúc”, nên “cúc” là từ ghép.

Ngược lại, nếu chúng ta nói “mua ngô”, thì “ngô” có nghĩa là “ngô ngô” chứ không phải “lá ngô” hoặc “hoa ngô”, vì vậy “lõi ngô” là một từ ghép và “ngô hoa” hoặc “ngô” lá “là sự kết hợp của hai từ. Ngược lại, nếu trong một tổ hợp từ, các thành phần của từ mở ra nghĩa cho một ngôn ngữ có cấu trúc chặt chẽ và không mâu thuẫn với hình thức của bất kỳ tổ hợp nào khác thì từ kết hợp. là một từ ghép.

Ví dụ: “split”; “co” là một từ ghép vì “ra” và “again” có nghĩa mở, vì vậy

“Sloppy” có nghĩa là “luộm thuộm” và “secret” có nghĩa là “nuốt”, không có từ trái nghĩa.

Ví dụ: “split”, …

Sau đó, tôi cung cấp cho học sinh một số bài tập để thực hành các kỹ năng của họ, sử dụng phương pháp “loại bỏ các yếu tố kết hợp”.

bài tập : Cho các tổ hợp từ sau và cho biết tổ hợp nào là từ ghép, tức là hai từ: chạy đi, cúi mình, bò vào, hoa hồng, lá hồng.

Học sinh nhận thấy rằng “ôm”, “hoa hồng” là từ ghép và “chạy đi”, “bò” và “lá hồng” là sự kết hợp của hai từ.

3.3, Loại trừ-Cân nhắc

Phép loại suy phân tích cũng là một kỹ thuật hiệu quả để xác định vị trí từ “phân tích” cho học sinh tiểu học, một ví dụ điển hình về cách chúng tôi đưa ra một tổ hợp từ đơn (hoặc từ ghép). .

Ví dụ: tổ hợp từ “table” là 2 từ, kết quả là “pen”, “book”, “gà”, … cũng là kết hợp của 2 từ.

Tổ hợp mẫu “hoa hồng” là từ ghép, suy ra “hoa cúc”, “hoa đào” … cũng là từ ghép đẳng lập.

Tuy nhiên, khi sử dụng “phân tích cú pháp”, hãy cẩn thận xác định các mẫu chính xác để phân biệt các mối quan hệ trông giống nhau trên bề mặt nhưng thực tế lại có ý nghĩa khác nhau.

Ví dụ: “nảy mầm” là một từ ghép, và “ra ngoài” là hai từ (đã giới thiệu trong phần tóm tắt).

Sau khi học sinh hiểu phương pháp “loại suy phân tích”, tôi đưa ra một bài tập sử dụng phương pháp này để xác định ranh giới từ.

Trên đây là 3 phương pháp cơ bản để phân biệt từ đơn và từ ghép, không có phương pháp nào là phổ thông, tuy nhiên trong từng bài tập cụ thể cần vận dụng linh hoạt phương pháp này.

p>

Tôi đã đưa cho bạn một bộ thực hành để bạn thực hành.

Ví dụ: Sử dụng dấu gạch ngang để tách các đoạn văn sau thành các từ:

“Mặt trời ló rạng, tiếng hú em xa xa không dứt. Những bông ngô héo như cỏ, lá ngô lại rũ xuống. Bắp đã mập rồi, có lẽ chỉ chờ người bẻ. họ. “

Qua bài tập này, các em có thể dễ dàng nhận ra các từ: nắng, chang chang, ran ran, rách rưới, nhưng, đã, béo, chắc và, thôi, vẫn, đợi, đến, vỡ.

Trẻ chần chừ chưa tìm được câu trả lời cho sự kết hợp: hú, gần và xa, hoa ngô, cỏ may, lá ngô, héo rũ, rũ xuống, lõi ngô, bàn tay người, mang về.

Đối với kết hợp từ ở trên, bạn đang sử dụng phương pháp “xen kẽ”.

Giọng bạn thế nào (được) vậy “âm” là 1 từ, “tu hu” là 1 từ, xa gần là 1 từ.

Một lần nữa, họ xác định một cách tỉnh táo: cỏ may, héo úa, rũ xuống là những từ ghép, vì các yếu tố: may, lại, xuống đều có nghĩa mở, và bàn tay người nên nói tay phải. Con người là một từ.

Hoa ngô, lá ngô, mang về là những kết hợp rời, là những tổ hợp từ, trong khi lõi ngô có cấu trúc chặt chẽ và là một từ ghép.

Đáp án : bầu trời / mặt trời / êm ả / âm thanh / bạn thế nào / gần và xa / chạy /. Trang phục hoa ngô đồng mặc như cỏ /. Rụng lá cây ngô đồng /. Những / bắp / từng / mập / và / chắc / thôi / vẫn / đợi / tay / đến / bẻ / mang / về /.

5 . Cách phân biệt từ ghép đẳng lập và từ ghép đẳng lập.

Xem thêm: Dịch tên 63 TỈNH THÀNH Việt Nam sang tiếng Trung ⇒by tiếng Trung Chinese

Theo định nghĩa của từ ghép, từ ghép “Sách Việt Nam 4”

– Từ ghép đẳng lập là những từ ghép tạo thành một nghĩa chung.

– Từ ghép là từ được cấu tạo bởi các âm tiết (âm đầu, vần), âm và vần, tiếng.

Vì vậy, theo định nghĩa, học sinh sẽ có thể nói những từ sau:

– Phát âm các từ liên quan, quan hệ không có âm, ví dụ: học, anh, gà trống, … là từ ghép.

-Việc phát âm các từ có quan hệ âm thanh, nhưng không có quan hệ nghĩa, chẳng hạn như: chăm chỉ, công nghiệp, lon ton, v.v. Còn những từ bên trong những từ vừa có nghĩa vừa có quan hệ âm thanh, ví dụ: “học, ngoan, hư” … thực chất là từ ghép, nhưng theo định nghĩa thì chúng dễ bị nhầm với từ láy. Lewd, vậy làm thế nào để dạy?

Tôi đặt ký hiệu cho từ ghép để phân biệt: “Âm trong từ ghép có quan hệ nghĩa”, vì vậy khi các từ vừa có quan hệ nghĩa vừa có quan hệ về âm thì ta ưu tiên quan hệ nghĩa, vì vậy. Chúng tôi coi chúng như những từ ghép.

– Mặt khác, cũng có những từ không liên quan về âm và không liên quan về nghĩa, ví dụ: mồ hôi, bồ hóng, … chúng được xếp vào loại từ đơn theo trường phái giáo dục. Giáo trình Polyphony, câu hỏi này rất khó đối với học sinh tiểu học nên chúng ta không thể lấy đó làm ví dụ để ôn tập hay sử dụng cho đề thi kể cả học sinh giỏi. Nếu học sinh yêu cầu cho điểm, chúng ta nên nói câu hỏi này các em sẽ học sau (tránh nói đây là từ ghép).

– Khái niệm về sách giáo khoa bình thường và sách giáo khoa tiểu học cũng khác nhau. Theo chương trình phổ thông bình thường, phương pháp chiết và chỉ ra những hình thái nguyên thủy, nên các trường hợp: chôm chôm, đu đủ, thằn lằn … không được coi là từ lá, hầu hết sách giáo khoa tiểu học đều tính đến. Hình thức ngữ âm nên xếp vào loại tiếng lóng cũng là một quan điểm phù hợp với tâm lý học sinh tiểu học.

Chúng ta có thể hệ thống hóa mối quan hệ giữa âm giữa và âm của từ như sau:

Mối quan hệ tốt

  • a – b: Cụm từ ghép
  • c: Cụm từ ghép
  • d: Không nên xem xét

– Để từ ghép thành một cụm từ cần phải thể hiện được sự lặp lại cả âm hoặc âm đầu hoặc một phần của vần nên đặt tình huống ồn ào, náo nhiệt, ú ớ … trong từ. Vì các tiếng trong các từ có hình thức ngữ âm giống nhau: giống nhau thiếu phụ âm đầu.

-Ngoài ra, giáo viên cần chú ý cách phát âm: / k / được viết bằng 3 chữ cái: c, q, k, / z / được viết bằng 2 chữ cái: d, gi; / y / được viết bằng hai chữ cái: i, y … vì vậy cần giúp học sinh hiểu được các phụ âm đầu viết trong các chữ cái khác nhau, ví dụ: kỳ dị, nón kính, ngoằn ngoèo, cồng kềnh, ngô nghê, thô kệch …

Để củng cố phần này, tôi cho học sinh làm bài tập sau:

Ví dụ: chia các từ sau thành 2 nhóm: từ ghép, từ ghép:

mập mạp, lom khom, tươi tốt, to lớn, học tập, học tập, đồ sộ.

– Học sinh đã xác định đúng những điều sau:

+ từ ghép: tươi tốt, học hỏi, học hỏi.

+ từ ghép: mũm mĩm, khom lưng, ồn ào, cồng kềnh

– Trên thực tế, học sinh cũng sẽ gặp một số từ ghép Hán Việt có cách phát âm ngẫu nhiên gần giống với lá. Trong những trường hợp này, giáo viên nên giải thích và giải thích cho các em hiểu đó là những từ ghép Hán Việt (các em sẽ học thêm ở cấp THPT)

Ví dụ: Bình minh, Niềm vui, Tổ chức, Thông báo …

Để học sinh học cách phân biệt từ đơn, từ ghép và từ ghép, ngoài việc cung cấp các bài tập để các em rèn luyện kỹ năng sử dụng dấu phân cách, tôi còn cung cấp một số dạng bài tập khác giúp các em học thêm. Tôi xác định, phân loại và phát triển vốn từ vựng.

5, Số nhận dạng, Phân loại, Phát triển từ, Từ ghép, Từ ghép.

* Dạng 1: Tìm từ theo cấu trúc .

Ví dụ: Tìm 5 từ đơn, 5 từ ghép, 5 từ ghép.

* Loại 2: Đưa ra các từ và yêu cầu cho điểm.

Ví dụ: chia các từ trung thực, bạn bè, học tập, chăm chỉ, đi bộ, khó khăn, tươi tốt thành hai nhóm:

  1. Hợp chất:
  2. Hợp chất:

<3

Ví dụ: Tìm từ và từ ghép trong các câu sau:

Mùa xuân của những điều ước đã đến. Thoạt đầu, mùi hương của hoa hồng và hoa loa kèn thoang thoảng trong vườn.

* Dạng 4: Đưa ra các yếu tố tạo nên một từ, yêu cầu học sinh kết hợp chúng theo cặp để tạo thành một lớp từ theo một cấu trúc nhất định.

Ví dụ: Ghép các âm sau thành từ ghép:

Ăn, mặc, sống, xe hơi, cháy nổ, máy móc, điện, dệt may, nói chuyện.

Vào đầu khóa học, có một phần cấu trúc từ có sẵn (1 giờ), nơi học viên được yêu cầu tìm các từ trong ngôn ngữ gốc có các mẫu cấu trúc khác nhau.

Ví dụ: Điền từ thích hợp vào dấu chấm (…) để được:

  1. Hợp chất
  • Mềm mại… – Mềm mại…
  • Màu xanh lá cây… – Màu xanh lá cây…
  • Sức khỏe… – Khỏe mạnh…
  • Lạnh… – Lạnh…
  • Hạnh phúc… -Rất vui…
  • Chút… -Rút…

* Dạng 5: Tìm các từ trong một cấu trúc cụ thể dựa trên một chủ đề nhất định. Đặt câu với những từ bạn tìm thấy.

Ví dụ: Tìm 2 từ đơn, 2 từ ghép, 2 từ ghép về chủ đề Tổ quốc. Đặt câu với mỗi từ bạn tìm thấy.

* dạng 6 : Tìm các từ có cấu trúc nhất định dựa trên một chủ đề nhất định. Viết thành từng phần.

Ví dụ: Tìm 5 từ ghép hoặc từ ghép nói lên đức tính tốt của một học sinh giỏi. Viết đoạn văn kể về học sinh giỏi đó.

* Dạng 7: Tìm từ dựa vào cấu tạo từ.

Ví dụ: tìm 5 từ ghép biểu thị các sắc thái khác nhau của màu trắng. Giải thích nghĩa của từng từ.

Độ khó của bài tập không phụ thuộc vào dạng và dạng bài tập, mà phụ thuộc vào chính kho ngữ liệu. Tùy theo đối tượng học viên mà chúng tôi cung cấp tài liệu phù hợp. Đối với học sinh trung bình, chỉ cần đưa ra những dạng bài đơn giản, cơ bản. Học sinh giỏi, chúng ta có thể đặt ra một số trường hợp khó hiểu. Đối với những trường hợp có nhiều câu trả lời khác nhau, học sinh cần được hướng dẫn để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi và hiểu tại sao họ lại đi đến kết quả này.

Ví dụ về Dạng 2: Học sinh muốn biết từ bạn bè là từ ghép hay từ ghép.

Có hai quan điểm ở đây; nếu chúng ta coi “friend” có cùng nghĩa với “clan”, thì “friend” là một từ ghép. Vì vậy, trong quá trình hình thành khái niệm “từ láy, từ ghép đẳng lập, từ ghép đẳng lập” cho học sinh, tôi đã kết hợp các phương pháp dạy học phát huy sức sống, tính sáng tạo, tích cực hóa kiến ​​thức, đồng thời phân tích ví dụ để có được phương pháp nhận dạng: “từ , từ ghép đẳng lập, từ ghép đẳng lập Sau đó tổ chức cho học sinh luyện tập những gì đã làm, rèn luyện kĩ năng kĩ xảo và kĩ năng nhận biết từ.

  1. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của câu hỏi nghiên cứu

Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu các phương pháp và áp dụng vào thực tế giảng dạy, tôi thấy chất lượng nhận dạng chữ của học sinh được cải thiện đáng kể. Trẻ không còn cảm thấy quá khó khăn khi luyện các phân từ của đoạn văn, đoạn thơ hay phân biệt từ ghép và từ ghép nữa – khả năng tạo từ cũng phong phú hơn.

Tôi đã đặt ra một câu hỏi để điều tra phẩm chất của đứa trẻ như sau:

Chủ đề khảo sát

Phần 1: Sử dụng dấu gạch ngang (/) để phân tách các từ trong các phần sau:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

<3

Cảnh khuya giống như vẽ người chưa ngủ

Không ngủ vì lo lắng cho đất nước.

Câu 2 : Chia các từ sau thành 2 nhóm: Cụm từ ghép, Cụm từ ghép.

Học tập, học tập chăm chỉ, siêng năng, ồn ào, tươi tắn, tươi cười, tươi tốt, tươi tắn, bận rộn, vui vẻ, hài hước.

Câu thứ ba : Xác định xem phần được gạch chân là từ ghép hay hai từ đơn giản.

Tai của con voi giống như một cái quạt.

Tôi vừa mua một chiếc quạt tai voi.

Câu 4 : Thêm âm sau tiếng: “nhỏ” để được 3 từ ghép, 3 từ ghép

Kết quả:

  1. Bài học kinh nghiệm
  2. Đối với giáo viên:

– Thường xuyên tham gia các lớp học mà kinh nghiệm giảng dạy nói chung, từ vựng và câu nói riêng, lý thuyết từ nói riêng và phải nắm rõ ý đồ, quan điểm của tài liệu.

p>

– Học liệu nâng cao trình độ, theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm khi giảng dạy và giáo viên là người đề xuất giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến ​​thức.

-Để giúp học sinh tránh những sai lầm về phân loại từ và nhận dạng từ khi dạy học chú ý lựa chọn những ví dụ phù hợp, mở rộng kiến ​​thức một cách hợp lý, đồng thời đưa ra những biện pháp để học sinh phân biệt. .

2. Dành cho Sinh viên

– Học sinh phải chủ động, tích cực lĩnh hội kiến ​​thức, tích cực trong công việc, giữ vai trò trung tâm trong quá trình dạy học.

– Các em tự học làm các bài tập nâng cao, nếu không biết hãy hỏi bạn bè, hỏi giáo viên ..

– Họ có thể tranh luận câu trả lời của mình với nhiều tình huống có thể xảy ra.

– Thường xuyên luyện tập cách đặt từ trong ngữ cảnh và hiểu nghĩa của từ để có thể sử dụng chúng một cách chính xác.

Xem thêm: Mắt phải giật hay nháy điềm gì ?

Kết luận – Đề xuất

iii.1 Kết luận

Qua nghiên cứu thực trạng học sinh lớp 4 trường tôi trong việc phân biệt từ láy, từ ghép và từ ghép đồng thời nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc phân loại và nhận dạng từ, bước đầu tôi đã tìm ra giải pháp giúp các em không làm mất thời gian của công việc này là quá khó. Trẻ em đi từ suy nghĩ phải học, ngại học từ và câu thành hứng thú học. Trước đây có nhiều từ gây tranh cãi, giờ bạn đã có cách nhìn nhận chúng một cách khoa học. Học sinh có thể tự tin và có thể lập luận và suy luận về bài làm của mình. Trong quá trình tích lũy và đúc kết kinh nghiệm nghiên cứu, do khả năng của mình còn nhiều hạn chế, kính mong bạn đọc và những người trong giới khoa học cơ sở chỉ bảo thêm để hoàn thiện kinh nghiệm của mình. Được sử dụng rộng rãi và hiệu quả.

iii.2 Đề xuất

  1. Sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy của khóa học.

– Thời gian hàng tuần nên tăng từ 2 giờ lên 3 giờ để học sinh có thể học cách nhận biết từ tốt

– Cần bổ sung định nghĩa từ ghép đẳng lập và từ ghép đẳng lập để phân biệt.

  1. Đối với giáo viên.

– Giáo viên phải nắm vững nội dung và phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh để sử dụng các phương pháp phù hợp giúp học sinh phát triển tư duy trong quá trình lĩnh hội tri thức.

– Các thầy cô giáo cần thường xuyên học tập, tích cực nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm giảng dạy để nâng cao tay nghề.

– Giáo viên cần biết cách tổ chức học sinh học tập một cách trật tự và giúp học sinh học tập tích cực một cách có ý thức, nhiệt tình và sáng tạo.

Cảm ơn bạn rất nhiều!

Tài liệu tham khảo

  1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 – Tập 1 – Nhà xuất bản giáo dục.
  2. Sổ tay Giáo viên Tiếng Việt 4 – Tập 1.
  3. Thiết kế môn học Tiếng Việt 4 – Tập 1

Xem thêm: Mắt phải giật hay nháy điềm gì ?

Nhấp vào đây để tải xuống phiên bản đầy đủ

Xem thêm: Mắt phải giật hay nháy điềm gì ?

Xem thêm:

Chương trình dành cho người mới bắt đầu miễn phí

Chương trình Mẫu giáo Miễn phí.

Chương trình dùng thử thcs miễn phí

Xem thêm: Mắt phải giật hay nháy điềm gì ?

Xem thêm: Mắt phải giật hay nháy điềm gì ?

Xem thêm: Mắt phải giật hay nháy điềm gì ?

Viết một bình luận